| English
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
TƯ VẤN PHÁP LUẬT
CƠ SỞ DỮ LIỆU LUẬT
KINH NGHIỆM - TRAO ĐỔI
KIỂM TRA MAIL
 
Trang chủ
Liên hệ
Liên kết web
Hôm nay:  
TÌM KIẾM THÔNG TIN
Từ khóa
 
   
  Ý nghĩa của việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm từ gốc độ luật hình sự

                                                  TRẦN THANH PHONG*

 Đoàn luật sư TP. Cần Thơ

 

I. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM

1. Sự kết thúc "thời kỳ vàng son của nạn nhân"

Các nhà nghiên cứu nạn nhân học đã gọi thời kỳ trung cổ là "thời vàng son của nạn nhân". Đó là thời kỳ xã hội áp dụng "hệ thống tư pháp của nạn nhân" (victim justice system). Việc trừng trị người phạm tội theo nguyên tắc lex talionis (luật trả miếng) và đòi người phạm tội bồi thường thiệt hại được thực hiện bởi chính nạn nhân hoặc người thân của họ.

Khi thời kỳ Trung cổ sắp kết thúc, có hai yếu tố báo hiệu sự suy tàn của hệ thống tư pháp của nạn nhân. Yếu tố thứ nhất là do các lãnh chúa phong kiến muốn tước đoạt các khoản tiền bồi thường như một cách làm cho họ giàu có hơn. Họ hợp pháp hóa hành vi này bằng cách cho rằng hành vi tội phạm là hành vi chống lại nhà nước. Yếu tố thứ hai là do cuộc cách mạng công nghiệp. Người ta rời làng mạc đến làm việc và sinh sống ở các đô thị mà chung quanh họ là những người xa lạ. Tội phạm ngày càng đe dọa hơn mối dây mong manh giữa con người. Nạn nhân của tội phạm do đó phải nhờ đến sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ mình. Hệ thống tư pháp của nạn nhân co dần và thay vào đó là hệ thống tư pháp hình sự. Vấn đề nạn nhân của tội phạm, theo thời gian, bị chìm dần vào quên lãng.

2. Sự hồi sinh của vấn đề nạn nhân của tội phạm

Vốn là nhà tội phạm học, Hans von Hentig dành nhiều thời gian để khám phá điều gì làm cho người phạm tội trở thành người phạm tội. Khi quay ngược lại vấn đề, ông tự hỏi điều gì làm cho nạn nhân trở thành nạn nhân. Từ kết quả nghiên cứu, Hentig cho rằng nạn nhân thường là nguyên nhân góp phần vào hành vi phạm tội. Bảy năm sau đó, Hentig cho ra đời tác phẩm Người phạm tội và nạn nhân. Trong tác này, ông lập một bảng phân loại gồm 13 loại nạn nhân. Phần lớn các loại nạn nhân trong bảng phân loại của von Hentig phản ánh tình trạng không có khả năng chống lại người phạm tội do bất lợi về thể chất, tâm lý và xã hội. Ví dụ như nạn nhân là người nhập cư, người khiếm khuyết về thể chất, tinh thần... Ông cho rằng "Cần phải quan tâm hơn nữa đến tác động khiêu khích tội phạm của nạn nhân... Thông qua sự hiểu biết đầy đủ về mối quan hệ tương tác giữa người phạm tội và người gánh chịu hậu quả, một cách tiếp cận mới sẽ mở ra cho việc khám phá tội phạm" [1] . Công trình nghiên cứu này của Hans von Hentig mang lại ý nghĩa về mặt tội phạm học.

Beniamin Mendelson là người thực sự tạo ra bước ngoặt mới cho lĩnh vực nghiên cứu này. Ông là người sáng tạo ra thuật ngữ Nạn nhân học (Victimology) và được mệnh danh là cha đẻ của nạn nhân học. Là một luật sư bào chữa, thông thường để chuẩn bị bài bào chữa cho mỗi vụ án, ông yêu cầu nạn nhân, nhân chứng, thậm chí cả người bàng quan trả lời bảng câu hỏi thăm dò thật chi tiết do ông soạn sẵn. Sau khi nghiên cứu kết quả trả lời, ông phát hiện rằng thường có một mối liên hệ mạnh mẽ có tính chất cá nhân giữa nạn nhân và người phạm tội. Trên cơ sở dự liệu thu thập được, Mendelson lập một bảng phân loại nạn nhân theo 6 bước dựa trên mức độ lỗi của nạn nhân, gồm (1) nạn nhân hoàn toàn không có lỗi; (2) nạn nhân có lỗi ít; (3) nạn nhân có lỗi tương đương với người phạm tội; (4) nạn nhân tự nguyện hay còn gọi là không có nạn nhân, ví dụ như tự tử; (5) nạn nhân có lỗi lớn hơn người phạm tội và (6) nạn nhân có lỗi lớn nhất, ví dụ trộm đào ngạch bị chủ nhà bắn lúc xâm nhập vào nhà. Nghiên cứu này có ý nghĩa xác định " mức độ lỗi của nạn nhân góp phần vào hành vi phạm tội" [2] . Ý nghĩa pháp lý hình sự của nạn nhân của tội phạm thật sự hồi sinh từ công trình nghiên cứu này.

Cuối   thập niên 50, thuật ngữ nạn nhân học đã được đề cập và bàn luận ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Nhật Bản. Năm 1974, Curtis cũng lập một bảng phân loại có ý nghĩa tương tự dựa trên hai yếu tố mức độ liên quan của nạn nhân và mức độ ý định của người phạm tội.

II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Có một điều bình thường, nhưng dường như ít ai nghĩ đến. Đó là khi tội phạm xảy ra, người ta có thể biết nhiều về nạn nhân hơn người tội phạm. Lý do đơn giản là người phạm tội luôn cố gắng lẩn tránh, che đậy hành vi vi phạm của mình. Còn nạn nhân thì mong muốn tìm đến sự giúp đỡ. Tuy nhiên, trên thực tế, khuynh hướng tập trung chú ý vào người phạm tội và hành vi phạm tội lại tỏ ra lấn át hơn.

Tội phạm, cũng như trong mọi sự vật, hiện tượng khác, đều tồn tại hai mặt đối lập. Mặt này quy định sự tồn tại của mặt kia. Việc nghiên cứu về nạn nhân và vai trò của nạn nhân trong luật hình sự, do đó, cũng là một cách tiếp cận khoa học, để hiểu rõ hơn về hành vi phạm tội phục vụ cho cả hoạt động lập pháp hình sự cũng như áp dụng pháp luật hình sự.

Bộ luật hình sự 1999 của nước ta cho thấy một sự tiến bộ lớn về những quy định liên quan đến yếu tố nạn nhân, xét về cả nội dung lẫn kỹ thuật lập pháp. Dù vậy, nhiều quy định liên quan đến nạn nhân của tội phạm vẫn bất cập. Chưa có công trình nghiên cứu lý luận nào về nạn nhân của tội phạm được thực hiện một cách khoa học và hệ thống làm cơ sở cho việc   xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Điều này chỉ ra sự cần thiết của việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm.

Theo chúng tôi, việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm về căn bản bao gồm các vấn đề sau đây:

1. Xác định nạn nhân của tội phạm

Đây là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa về mặt quan điểm và cơ sở lý luận chung nhất cho tất cả các quy định của pháp luật hình sự về những vấn đề liên quan đến nạn nhân của tội phạm. Việc xác định rõ nội hàm của khái niệm nạn nhân của tội phạm giúp phân biệt nạn nhân của tội phạm với nạn nhân của các vi phạm khác như nạn nhân của hành vi vi phạm hợp đồng dân sự, vi phạm hợp đồng lao động, vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm hành chính...

Thông thường, nạn nhân của tội phạm được hiểu là người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Nạn nhân của tội phạm có thể là người hoặc tổ chức bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần. Tuy nhiên, không phải các hệ thống pháp luật đều có quan điểm giống nhau về nạn nhân. Có nhiều yếu tố chi phối quan điểm này, dẫn đến sự nhìn nhận khác nhau về nạn nhân. Ví dụ như thai nhi trong các trường hợp phá thai. Vấn đề này đã từng gây tranh cãi trong khuôn khổ các học thuyết Giáo hội Thiên chúa Roma. Khi Giáo hoàng Puis IX công bố học thuyết "sự sống tứ thời" (the doctrine of immediate animation) [3] , thì hành vi phá thai trong mọi trường hợp đều bị coi là giết người. BLHS nước ta không coi hành vi đó là giết người (thai nhi) vì đó không phải là cá thể tồn tại về mặt sinh học và xã hội. Khái niệm nạn nhân của tội phạm do đó có ý nghĩa quan trọng về mặt quan điểm và lý luận, làm cơ sở cho việc xác định có hay không có nạn nhân của tội phạm là cá nhân.

Thực tế cho thấy việc xác định tổ chức nào có thể là nạn nhân của tội phạm cũng là một vấn đề cần được bàn luận. Đã có thời kỳ mà việc xác định tổ chức - nạn nhân của tội phạm trong áp dụng pháp luật cho thấy sự bất hợp lý. Ví dụ như Công ty cổ phần có nguồn vốn từ quỹ phúc lợi của UBND huyện cũng được coi thành phần kinh tế XHCN. Sau BLHS 1985, chúng ta đã chứng kiến những sửa đổi về các trường hợp nạn nhân là tổ chức qua BLHS 1999. Có trường hợp do những biến đổi trong nền kinh tế của đất nước. Song, việc quy định một số trường hợp khác mà nạn nhân là tổ chức tại BLHS 1999 cũng sẽ không tránh khỏi vướng mắc, nếu gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật. Ví dụ nạn nhân là tổ chức xã hội. Hội đồng hương có được coi là nạn nhân của tội phạm như cơ quan nhà nước không? Thực tế này chỉ ra sự cần thiết phải đưa ra các tiêu chí thể hiện quan điểm và làm cơ sở lý luận cho việc quy định các trường hợp nạn nhân là tổ chức.

Trong khái niệm nạn nhân của tội phạm, sự thiệt hại là một bộ phận hợp thành quan trọng. Về cơ bản, thiệt hại gồm thiệt hại vật chất và tinh thần. Song, thế nào mới coi là thiệt hại của nạn nhân của tội phạm thì cũng có sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Theo Hoàng Việt luật lệ, gia trưởng cưới vợ cho nô bộc là con gái nhà lành thì bị phạt 80 trượng vì "Làm vậy là nhà sang khá bị nhục" [4] . Như vậy, theo quan điểm lúc bấy giờ, đây là thiệt hại về tinh thần mà bên con gái nhà lành phải gánh chịu. Ngày nay, quan điểm pháp lý coi đó là sự thiệt hại không còn tồn tại trong pháp luật nước ta nữa. Như vậy, các quan điểm và cơ sở lý luận về sự thiệt hại còn có ý nghĩa xác định có hay không có hành vi phạm tội.

Trong một số trường hợp, hành vi phạm tội không gây thiệt hại cho cá nhân hay tổ chức nào, song lại xâm phạm hay đe dọa đến giá trị xã hội nào đó hoặc trật tự công cộng cần được pháp luật bảo vệ. Ví dụ như tội tàng trữ, vận chuyển chất ma tuý hay vũ khí... Từ việc làm rõ khái niệm nạn nhân của tội phạm, chúng ta biết được một tội phạm cụ thể nào đó có nạn nhân hay không có nạn nhân. Đây cũng là vấn đề mà thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy trong một số trường hợp vẫn còn vướng mắc, chủ yếu là đối với các tội mà, theo quy định của BLHS 1999, khách thể không phải là tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm.

2. Ý nghĩa pháp lý hình sự của yếu   tố nạn nhân

Trong BLHS 1999 của nước ta, nạn nhân được các nhà làm luật quy định trong ba trường hợp: nạn nhân là yếu tố định tội, nạn nhân là yếu tố định khung, nạn nhân là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Nạn nhân ảnh hưởng đến việc định tội và các chế tài hình sự là do các yếu tố sau:

- Nhân thân của nạn nhân: người bị hạn chế về mặt thể chất (như trẻ em, người già...), người có ưu thế về mặt xã hội (như ông, bà, cha, mẹ, thầy cô, người thi hành công vụ...), người có hạn chế về mặt xã hội (tù binh, hàng binh...).

- Hành vi xử sự của nạn nhân như nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, nạn nhân xâm phạm lợi ích nhà nước, tổ chức, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nghiên cứu các quy định liên quan đến nạn nhân trong 2 BLHS 1985 và 1999, chúng tôi thấy có mấy vấn đề sau:

a. Trong BLHS, cùng một loại nạn nhân như trẻ em, người già hoặc người thi hành công vụ..., ở các điều luật khác nhau, có thể được quy định như là yếu tố định tội, yếu tố định khung và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ.

b. Cùng một loại nạn nhân, song ở các BLHS khác nhau có ý nghĩa pháp lý khác nhau. Ví dụ như trường hợp nạn nhân là con mới đẻ, người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, nhà nước ... Trường hợp con mới đẻ được các nhà làm luật quy định như các yếu tố định khung trong BLHS 1985. Theo quy định của BLHS 1999, trường hợp này là yếu tố định tội (Điều 94, Điều 95, Điều 105 BLHS 1999). Trường hợp nạn nhân là nhà nước cũng có sửa đổi, như được quy định là tình tiết tăng nặng mới trong BLHS 1999. Theo BLHS 1985, nạn nhân của tội phạm là nhà nước chỉ được quy định như là yếu tố định tội hoặc định khung.

c. Có trường hợp nạn nhân của tội phạm mới được bổ sung. Ví dụ như thầy cô giáo tại Điều 104 BLHS 1999, mà BLHS 1985 không quy định.

d. Có trường hợp người hoặc tổ chức theo BLHS 1985 được coi là nạn nhân của tội phạm, nhưng theo BLHS 1999 thì không còn nữa. Ví dụ nạn nhân là "nhà nước khác" hoặc "tổ chức quốc tế" trong tội xâm phạm tài sản của các nhà nước khác hoặc các tổ chức quốc tế thuộc Điều 141 BLHS 1985 hay "người nước ngoài" trong tội xâm phạm tài sản của người nước ngoài thuộc Điều 162 BLHS 1985.

Những sửa đổi trong BLHS 1999 đã được các nhà lập pháp lý giải, song dựa trên các phân tích về tính hợp lý của từng trường hợp, chứ không dựa trên cơ sở lý luận chung, làm nền tảng cho việc quy định trường hợp nào nạn nhân là yếu tố định tội, nạn nhân là yếu tố định khung và nạn nhân là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Hoặc, trường hợp nào phải quy định thêm nạn nhân mới hoặc loại bỏ nạn nhân nào đó đã được quy định trước đây.

Chúng ta còn có thể thấy những khác biệt lớn hơn nhiều khi so sánh các Bộ luật hình sự gần đây với Quốc triều hình luật hay Hoàng Việt luật lệ.

Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm do đó, theo chúng tôi, có ý nghĩa như sau:

- Xác định các tiêu chí có ý nghĩa về mặt lý luận, tức là chỉ ra những căn cứ mà từ đó, yếu tố nạn nhân làm cho hành vi phạm tội có ý nghĩa về chất, cần phải quy định thành một tội danh riêng biệt hoặc có ý nghĩa về lượng, được quy định như tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chung.

- Về nguyên tắc, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này có ý nghĩa là mọi sự vi phạm pháp luật dù xâm phạm quyền và lợi ích của ai cũng phải được xử lý như nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tùy thuộc vào từng thời kỳ, yếu tố nạn nhân của tội phạm chỉ ra mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi phạm tội. Nghiên cứu này giúp xác định đầy đủ các trường hợp nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa làm cho tội phạm có sự thay đổi về chất (định tội) hoặc về lượng (định khung, tăng nặng, giảm nhẹ), kể cả việc bỏ hoặc bổ sung thêm nạn nhân nào đó trong BLHS.

- Nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm cũng giúp việc quy định hình phạt trong những trường hợp có liên quan đến nạn nhân ở các tội danh khác nhau được công bằng, hợp lý và thống nhất trong BLHS.

- Ngoài ra, trong những trường hợp nhất định, theo chúng tôi, việc xác định nạn của tội phạm trên cơ sở phân biệt nạn nhân của các hành vi khác, còn có thể tìm thêm được một giải pháp góp phần vào việc hạn chế tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế - một vấn đề vẫn còn xảy ra trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta. Ví dụ như trên cơ sở xác định khả năng thu hồi nợ của người cho vay, có thể xác định được họ là nạn nhân của tội phạm trong vụ án hay không.

 

 

[1] William G.Doerner & Steven P. Lab (1995), Victimology, Anderson Publishing Co., tr. 5

 

[2] Isreal Drapkin & Emilio Viano (1974), Victimology, Nxb Lexington Books, tr. 19.

[3] Stepen E.Brown, Finn Aege Esbensen, Gilbert Geis (1990), Criminology, Anderson Publishing Co., tr. 632.

[4] Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu (19940, Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hoá Thông tin, Tập III, tr.   342.         
 
ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 1/2005
     

Sưu tầm

[Gửi bởi admin. Đăng ngày 10/02/2006 05:47:38] [Lần xem: 4593]
<< Quay lại

 
     
 
Bản In Bản in     Về đầu trang Về đầu trang

 
 
Bạn đọc bình luận:
 
 
Ý kiến của bạn:
Tên *:
Email:
Nội dung *:
  Tắt bộ gõ Telex VNI VIQR Tùy ý (cả 3 kiểu)
 
Lưu ý: Ý kiến của bạn sẽ được đăng chậm nhất sau 72 giờ.
Ban quản trị giữ quyền xóa những bài viết không phù hợp.
 
 
Xem tiếp:
   Nguyễn Quốc H phạm tội gì? (3080)
   Về thời điểm chuyển đổi tư cách bị can sang tư cách bị cáo trong tố tụng hình sự (5894)
   Lịch sử luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ nhà Hồ đến thời kỳ nhà Lê (5827)
 
 
 
 
Số lượt truy cập